Thứ năm, 24 Tháng 6 2010 - 10:24am
Luật hôn nhân và gia đình có nhiệm vụ góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.

 

 

 

LUẬT

HÔN NHÂN VÀ GIA
ĐÌNH

 

LỜI
NÓI ĐẦU

 

Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi
dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân
cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt
thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.

Để đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã
hội, giữ gìn và phát huy truyền thống và những phong tục, tập quán tốt
đẹp của dân tộc Việt Nam, xoá bỏ những phong tục, tập quán
lạc hậu về hôn nhân và gia đình;

Để
nâng cao trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội trong việc xây
dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam;

Kế thừa và phát triển pháp luật về hôn nhân
và gia đình Việt Nam;

Căn cứ vào Hiến
pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;

Luật này quy định chế độ hôn nhân và gia đình.

 

CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1.
Nhiệm vụ và phạm vi điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình

Luật hôn nhân và gia đình có nhiệm vụ góp phần
xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây
dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia
đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình,
kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam
nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.

Luật hôn nhân và gia
đình quy định chế độ hôn nhân và gia đình, trách nhiệm của công dân, Nhà
nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình
Việt Nam.

Điều 2.
Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình

1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ
chồng bình đẳng.

2. Hôn nhân giữa công dân
Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với
người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

3. Vợ
chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình.

4. Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân
có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha
mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà; các
thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau.

5. Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân
biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi,
con trong giá thú và con ngoài giá thú.

6. Nhà
nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ
các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.

Điều 3.
Trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối với hôn nhân và gia đình

1. Nhà nước có chính sách, biện pháp tạo điều
kiện để các công dân nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ và gia
đình thực hiện đầy đủ chức năng của mình; tăng cường tuyên truyền, phổ
biến pháp luật về hôn nhân và gia đình; vận động nhân dân xoá bỏ phong
tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống,
phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc; xây dựng
quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ.

2. Cơ
quan, tổ chức có trách nhiệm giáo dục, vận động cán bộ, công chức, các
thành viên của mình và mọi công dân xây dựng gia đình văn hoá; thực hiện
tư vấn về hôn nhân và gia đình; kịp thời hoà giải mâu thuẫn trong gia
đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình.

3. Nhà trường phối hợp với gia đình trong việc
giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình cho
thế hệ trẻ.

Điều 4.
Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình

1. Quan hệ
hôn nhân và gia đình thực hiện theo quy định của Luật này được tôn
trọng và được pháp luật bảo vệ.

2. Cấm tảo
hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; cấm kết hôn
giả tạo, lừa dối để kết hôn, ly hôn; cấm cưỡng ép ly hôn, ly hôn giả
tạo; cấm yêu sách của cải trong việc cưới hỏi.

Cấm
người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với
người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung
sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.

Cấm ngượ đãi, hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng,
con, cháu, anh, chị, em và các thành viên khác trong gia đình.

3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia
đình phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp
luật.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu
cầu Toà án, cơ quan khác có thẩm quyền có biện pháp kịp thời ngăn chặn
và xử lý nghiêm minh đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn
nhân và gia đình.

Điều 5.
Áp dụng quy định của Bộ luật
dân sự

Các quy định của Bộ luật dân sự liên
quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình được áp dụng đối với quan hệ hôn
nhân và gia đình trong trường hợp pháp luật về hôn nhân và gia đình
không có quy định.

Điều 6.
Áp dụng phong tục, tập quán
về hôn nhân và gia đình

Trong quan hệ hôn nhân
và gia đình, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc
mà không trái với những nguyên tắc quy định tại Luật này thì được tôn
trọng và phát huy.

Điều 7.
Áp dụng pháp luật về hôn
nhân và gia đình đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài.

1. Các quy định của pháp luật về hôn
nhân và gia đình của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối
với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp
Luật này có quy định khác.

2. Trong trường hợp
điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham
gia có quy định khác với quy định của Luật này, thì áp dụng quy định
của điều ước quốc tế.

Điều 8.
Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ
dưới đây được hiểu như sau:

1.
Chế độ hôn nhân và gia đình là toàn bộ những quy định của pháp
luật về kết hôn, ly hôn, nghĩa vụ và quyền giữa vợ và chồng, giữa cha
mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình, cấp dưỡng, xác định
cha, mẹ, con, con nuôi, giám hộ, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình;

2. Kết hôn
là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật
về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn;


3. Kết hôn trái pháp luật là việc xác
lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn
do pháp luật quy định;

4.
Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả
hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật;

5. Cưỡng ép kết hôn
là hành vi buộc người khác phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ;

6. Hôn nhân
là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn;

7. Thời kỳ hôn nhân
là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết
hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân;

8.
Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công
nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ
chồng;

9. Cưỡng
ép ly hôn
là hành vi buộc người khác phải ly hôn trái với nguyện
vọng của họ;

10. Gia đình
là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống
hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ
với nhau theo quy định của Luật này;


11. Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa
vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của
người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc
nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, là người
đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự
nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này;

12. Những người
cùng dòng máu về trực hệ
là cha, mẹ đối với con; ông, bà đối với
cháu nội và cháu ngoại;

13.
Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người
cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ,
cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú
con bác, con cô con cậu, con dì là đời thứ ba;


14. Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài
là quan hệ hôn nhân và gia đình:

a) Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài;

b) Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt
Nam;

c) Giữa công dân Việt Nam với nhau mà
căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước
ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.

Theo: ST

Các tin khác