Thứ năm, 24 Tháng 6 2010 - 10:54am
Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.

CHƯƠNG
X
LY HÔN

Điều 85.
Quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn

1.
Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly
hôn.

2. Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang
nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin
ly hôn.

Điều 86.
Khuyến khích hoà giải ở cơ sở

Nhà nước và xã
hội khuyến khích việc hoà giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn.
Việc hoà giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hoà giải ở
cơ sở.

Điều 87.
Thụ lý đơn yêu cầu ly hôn

Toà án thụ lý đơn
yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Trong trường hợp không đăng ký kết hôn
mà có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan
hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật này; nếu có yêu
cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại khoản 2 và khoản 3
Điều 17 của Luật này.

Điều 88.
Hoà giải tại Toà án

Sau khi đã thụ lý đơn yêu
cầu ly hôn, Toà án tiến hành hoà giải theo quy định của pháp luật về tố
tụng dân sự.

Điều 89.
Căn cứ cho ly hôn

1. Toà án xem xét yêu cầu
ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung
không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án
quyết định cho ly hôn.

2. Trong
trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly
hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn.

Điều 90. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn mà hoà
giải tại Toà án không thành, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly
hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả
thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ
và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo
đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.

Điều 91. Ly
hôn theo yêu cầu của một bên

Khi một bên vợ
hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án
xem xét, giải quyết việc ly hôn.

Điều 92. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục,
nuôi dưỡng con sau khi ly hôn

1. Sau
khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục,
nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng
lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự
nuôi mình.

Người không trực tiếp nuôi con có
nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

2. Vợ, chồng thoả
thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau
khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định
giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của
con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của
con.

Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao
cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác.

Điều 93.
Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai
bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
được thực hiện trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không bảo đảm
quyền lợi về mọi mặt của con và phải tính đến nguyện vọng của con, nếu
con từ đủ chín tuổi trở lên.

Điều 94.
Quyền thăm nom con sau khi ly hôn

Sau khi ly
hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được
cản trở người đó thực hiện quyền này.

Trong
trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản
trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi
dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế
quyền thăm nom con của người đó.

Điều 95. Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn

1. Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả
thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản
riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.

2. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các
nguyên tắc sau đây:

a) Tài sản chung của vợ
chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi
bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập,
duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình
được coi như lao động có thu nhập;

b) Bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên
bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và
không có tài sản để tự nuôi mình;

c) Bảo vệ
lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề
nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện
vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá
trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần
giá trị chênh lệch.

3. Việc thanh toán nghĩa
vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thoả thuận; nếu không
thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.


Điều 96. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng
sống chung với gia đình mà ly hôn

1. Trong
trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của
vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì
vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình
căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát
triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc
chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thoả thuận với gia
đình; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình
mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác
định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được
trích ra từ khối tài sản chung đó để chia.


Điều 97. Chia quyền sử dụng đất của vợ, chồng
khi ly hôn

1. Quyền sử dụng đất riêng của bên
nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2.
Việc chia quyền sử dụng đất chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện
như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây
hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều
kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thoả thuận của hai bên;
nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định
tại Điều 95 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ
một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó
được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị
quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong
trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm,
nuôi trồng thuỷ sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử
dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a
khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng
cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy
định tại Điều 95 của Luật này;

d) Việc chia
quyền sử dụng đối với các loại đất khác được thực hiện theo quy định của
pháp luật về đất đai và pháp luật dân sự.

3.
Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử
dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có
quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải
quyết theo quy định tại Điều 96 của Luật này.


Điều 98. Chia nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ
chồng

Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu
chung của vợ chồng có thể chia để sử dụng thì khi ly hôn được chia theo
quy định tại Điều 95 của Luật này; nếu không thể chia được thì bên được
tiếp tục sử dụng nhà ở phải thanh toán cho bên kia phần giá trị mà họ
được hưởng.

Điều 99.
Giải quyết quyền lợi của vợ, chồng khi ly hôn trong trường hợp nhà ở
thuộc sở hữu riêng của một bên

Trong trường
hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên đã được đưa vào sử dụng chung
thì khi ly hôn, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà,
nhưng phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị nhà, căn cứ vào công
sức bảo dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà.

Theo: ST

Các tin khác