Chương VII + VIII - Xác định cha, mẹ, con, con nuôi
CHƯƠNG
VII
XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON
Điều 63.
Xác định cha, mẹ
1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ
có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng.
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ
thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng.
2.
Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và
phải được Toà án xác định.
Việc xác định cha,
mẹ cho con được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ quy định.
Điều 64.
Xác định con
Người không được nhận là cha, mẹ
của một người có thể yêu cầu Toà án xác định người đó là con mình.
Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể
yêu cầu Toà án xác định người đó không phải là con mình.
Điều 65.
Quyền nhận cha, mẹ
1. Con có quyền xin nhận
cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.
2. Con đã thành niên xin nhận cha, không đòi hỏi phải
có sự đồng ý của mẹ; xin nhận mẹ, không đòi hỏi phải có sự đồng ý của
cha.
Điều 66.
Người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã
thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha, mẹ
mất năng lực hành vi dân sự
1. Mẹ, cha hoặc
người giám hộ theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự
mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án xác định
cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi
dân sự hoặc xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự.
2. Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố
tụng dân sự có quyền yêu cầu Toà án xác định cha, mẹ cho con chưa thành
niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con
cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự.
3. Cơ
quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có
quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án
xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực
hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân
sự:
a) Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;
b) Hội liên hiệp phụ nữ.
4.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Viện kiểm sát xem xét,
yêu cầu Toà án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành
niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha, mẹ mất năng
lực hành vi dân sự.
CHƯƠNG
VIII
CON NUÔI
Điều 67.
Nuôi con nuôi
1.
Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận
nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được
nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp
với đạo đức xã hội.
Một người có thể nhận một
hoặc nhiều người làm con nuôi.
Giữa người
nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi có các quyền, nghĩa
vụ
của cha mẹ và con theo quy định của Luật này.
2. Nhà nước và xã hội khuyến khích việc nhận trẻ mồ
côi, trẻ bị bỏ rơi, trẻ bị tàn tật làm con nuôi.
3. Nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột
sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục
lợi khác.
Điều 68.
Người được nhận làm con nuôi
1. Người được
nhận làm con nuôi phải là người từ mười lăm tuổi trở xuống.
Người trên mười lăm tuổi có thể được nhận làm con nuôi
nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự
hoặc làm con nuôi của người già yếu cô đơn.
2.
Một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của cả hai người
là vợ chồng.
Điều 69.
Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi
Người
nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:
1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
2. Hơn con nuôi từ hai mươi tuổi trở lên;
3. Có tư cách đạo đức tốt;
4.
Có điều kiện thực tế bảo đảm việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục con nuôi;
5. Không phải là người đang bị
hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc bị kết
án mà chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính
mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành
hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng
mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua
bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối với
trẻ em; có hành vi xúi giục, ép
buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Điều 70.
Vợ chồng cùng nhận nuôi
con nuôi
Trong trường hợp vợ chồng cùng nhận
nuôi con nuôi thì vợ chồng đều phải có đủ các điều kiện quy định tại
Điều 69 của Luật này.
Điều 71.
Sự đồng ý của cha mẹ đẻ, người giám hộ và người được nhận làm con nuôi
1. Việc nhận người chưa thành niên, người đã
thành niên mất năng lực hành vi dân sự làm con nuôi phải được sự đồng ý
bằng văn bản của cha mẹ đẻ của người đó; nếu cha mẹ đẻ đã chết, mất năng
lực hành vi dân sự hoặc không xác định được cha, mẹ thì phải được sự
đồng ý bằng văn bản của người giám hộ.
2.
Việc nhận trẻ em từ đủ chín tuổi trở lên làm con nuôi phải được sự đồng ý
của trẻ em đó.
Điều 72.
Đăng ký việc nuôi con nuôi
Việc nhận nuôi con
nuôi phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký và ghi vào Sổ hộ
tịch.
Thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi,
giao nhận con nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật
về hộ tịch.
Điều 73.
Từ chối việc đăng ký nuôi con nuôi
Trong
trường hợp một bên hoặc các bên không có đủ các điều kiện nhận nuôi con
nuôi hoặc làm con nuôi thì cơ quan đăng ký việc nuôi con nuôi từ chối
đăng ký và giải thích rõ lý do bằng văn bản; nếu cha mẹ đẻ, người giám
hộ và người nhận nuôi con nuôi không đồng ý thì có quyền khiếu nại theo
quy định của pháp luật.
Điều 74.
Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi
Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có các quyền và nghĩa vụ
của cha mẹ và con theo quy định tại Luật này, kể từ thời điểm đăng ký
việc nuôi con nuôi.
Con liệt sĩ, con thương
binh, con của người có công với cách mạng được người khác nhận làm con
nuôi vẫn được tiếp tục hưởng mọi quyền lợi của con liệt sĩ, con thương
binh, con của người có công với cách mạng.
Điều 75.
Thay đổi họ, tên; xác định dân tộc của con nuôi
1. Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi.
Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ chín tuổi trở
lên phải được sự đồng ý của người đó.
Việc
thay đổi họ, tên của con nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật
về hộ tịch.
2. Việc xác định dân tộc của con
nuôi được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Bộ luật dân sự.
Điều 76.
Chấm dứt việc nuôi con nuôi
Theo yêu cầu của
những người quy định tại Điều 77 của Luật này, Toà án có thể quyết định
chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp sau đây:
1. Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện
chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi;
2. Con nuôi bị
kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm,
danh dự của cha, mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha, mẹ nuôi hoặc có hành
vi phá tán tài sản của cha, mẹ nuôi;
3. Cha mẹ
nuôi đã có các hành vi quy định tại khoản 3 Điều 67 hoặc khoản 5 Điều
69 của Luật này.
Điều 77.
Người có quyền yêu cầu Toà án chấm dứt việc nuôi con nuôi
1. Con nuôi đã thành niên, cha, mẹ đẻ, người giám hộ
của con nuôi, cha, mẹ nuôi theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự
có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà
án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp quy
định tại Điều 76 của Luật này.
2. Viện kiểm
sát theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Toà
án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp quy
định tại điểm 2 và điểm 3 Điều 76 của Luật này.
3. Cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp
luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện
kiểm sát yêu cầu Toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi
con nuôi trong các trường hợp quy định tại điểm 2 và điểm 3 Điều 76 của
Luật này:
a) Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ
em;
b) Hội liên hiệp phụ nữ.
4. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị
Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi
con nuôi trong các trường hợp quy định tại điểm 2 và điểm 3 Điều 76 của
Luật này.
Điều 78.
Hậu quả pháp lý của việc chấm dứt nuôi con nuôi
1. Khi chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quyết định của
Toà án, các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi cũng chấm
dứt; nếu con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn
tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có
tài sản để tự nuôi mình thì Toà án ra quyết định giao người đó cho cha
mẹ đẻ hoặc cá nhân, tổ chức trông nom, nuôi dưỡng.
2. Trong trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được
nhận lại tài sản đó; nếu con nuôi có công sức đóng góp vào khối tài sản
chung của gia đình cha mẹ nuôi thì được trích một phần từ khối tài sản
chung đó theo thoả thuận giữa con nuôi và cha mẹ nuôi; nếu không thoả
thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
3.
Khi việc nuôi con nuôi chấm dứt, theo yêu cầu của cha mẹ đẻ hoặc của
người đã làm con nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc
người đã làm con nuôi được lấy lại họ, tên mà cha mẹ đẻ đã đặt.








