Chương IX - Giám hộ giữa các thành viên trong gia đình
CHƯƠNG
IX
GIÁM HỘ GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH
Điều 79.
Áp dụng pháp luật về
giám hộ trong quan hệ gia đình
Khi trong gia
đình có người cần được giám hộ thì việc giám hộ được thực hiện theo các
quy định về giám hộ của Bộ luật dân sự và Luật này.
Điều 80.
Cha mẹ giám hộ cho con
Trong trường hợp cha
mẹ cùng giám hộ cho con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì họ
đều phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của người giám hộ. Cha, mẹ thoả
thuận với nhau về việc đại diện theo pháp luật cho con trong các giao
dịch dân sự vì lợi ích của con.
Điều 81. Cha mẹ cử người giám hộ cho con
Trong trường hợp cha mẹ còn sống nhưng không có điều
kiện trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành
niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì cha mẹ có thể cử
người khác giám hộ cho con; cha mẹ và người giám hộ thoả thuận về việc
người giám hộ thực hiện một phần hoặc toàn bộ việc giám hộ.
Điều 82.
Con riêng giám hộ cho bố dượng, mẹ kế
Trong
trường hợp bố dượng, mẹ kế không có người giám hộ theo quy định tại Điều
72 của Bộ luật dân sự thì con riêng đang sống chung với bố dượng, mẹ kế
làm người giám hộ, nếu có đủ điều kiện làm người giám hộ.
Điều 83.
Giám hộ giữa anh, chị, em
1. Trong trường
hợp anh, chị, em ruột cần được giám hộ thì anh, chị, em đã thành niên có
năng lực hành vi dân sự thoả thuận cử một người trong số họ có đủ điều
kiện làm người giám hộ.
2. Khi quyết định các
vấn đề liên quan đến nhân thân, tài sản của em chưa thành niên thì anh,
chị là người giám hộ của em phải tham khảo ý kiến của những người thân
thích và ý kiến của em, nếu em từ đủ chín tuổi trở lên.
Điều 84.
Giám hộ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu
1.
Trong trường hợp cháu cần được giám hộ mà ông bà nội, ông bà ngoại có
đủ điều kiện làm người giám hộ thì những người này thoả thuận cử một bên
làm người giám hộ.
2. Cháu có đủ điều kiện
làm người giám hộ thì phải giám hộ cho ông bà nội, ông bà ngoại, nếu ông
bà không có con phụng dưỡng.








